Hotline
Ý kiến chuyên gia

Cinnamon - spices and oriental medicine flavors

01/06/2020
Share:

Cinnamon has a special aroma, often used as a spice in many dishes. In addition, Cinnamon is also a medicine present in many traditional medicine.

Cinnamon's history:
Cây quế hay còn gọi là quế chi, quế thanh, mạy quẻ hay ngọc thụ. 

Tên khoa học: Cinnamomum cassia Presl. Thuộc họ long não. (Lauraceae)
Cây quế được trồng nhiều ở Việt Nam như (Yên Bái, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thanh Hóa, Nghệ An), ở Srilanca và Trung Quốc. Quế là loại cây thân gỗ cao từ 10 đến 20m, thân vỏ nhẵn màu nâu nhạt, lá cây mọc so le, hoa trắng nở ở đầu cành, quả hạch hình trứng nhẵn có màu nâu tím khi chín. Đặc điểm đặc biệt ở cây quế là toàn cây đều có mùi thơm.

Bộ phận dùng, thu hái, chế biến:
Cây quế được tận dụng từ vỏ quế (Quế nhục), cành nhỏ (Quế chi), và lá quế .
Cây quế thường được thu hoạch quanh năm, trừ vỏ quế dễ bóc  trong khoảng thời gian tháng 4-5 và 9-10 là thời gian cây có nhiều nhựa.Vỏ quế được thu hoạch ở những cây trên mười năm tuổi. Trước khi sử dụng đem phơi khô trong râm hoặc ngoài nắng.

Thành phần hóa học:
Thành phần hóa học quan trọng nổi bật của cây quế là tinh dầu aldehyd cinamic.
Ngoài ra còn có các hợp chất khác như diterpenoid, phenyl glycosid, chất nhầy, flavonoid, tanin và coumarin.
Cây quế Việt Nam có hàm lượng cao (vỏ quế (85%), lá (80%)) được dùng làm thuốc. Các loại cây quế khác như Srilanca hàm lượng adehyd cinamic khoảng 70% chủ yếu chỉ dùng làm gia vị.
Tác dụng dược lý:
Theo quan niệm hiện đại: ở nồng độ 0,5 -1 % bột quế có tác dụng ức chế sự phát triển và hình thành độc tố của một số loại nấm. Tinh dầu quế giúp trợ tiêu hóa, hô hấp và tuần hoàn, tăng bài tiết, nhu động ruột và co bóp tử cung. Chống khối u, xơ vữa động mạch vành và chống oxy hóa.
Theo quan niêm Y học cổ truyền (Đông Y):
- Quế chi (cành nhỏ) là loại dược liệu thuộc nhóm phát tán phong hàn, chữa cảm mạo phong hàn có ra mồ hôi. Trị bế kinh, thống kinh, chứng đau bụng do lạnh, đau khớp , đau dây thần kinh, co cứng cơ do lạnh.
- Nhục quế (vỏ quế) là loại thuốc khử hàn. Nhục quế trị chứng thận dương hư, tay chân lạnh, trụy tim mạch. Chữa đau lạnh bụng, nôn mửa, tiêu chảy, viêm đaị tràng, lạnh lưng gối. Chữa phù thũng, khó tiểu tiện, viêm thận mãn. Chữa nôn oí ra máu. (Không dùng liều cao và kéo dài dễ bị nhức đầu, táo bón và vỡ mao mạch.
- Ngoài ra còn dùng làm rượu thuốc, cồn thuốc, rượu khai vị và gia vị.
Bài thuốc Đông y từ cây Quế:
Quế chi:
Quế chi thang: Quế chi, Sinh khương,  Bạch thược mỗi loại 12g, Chích thảo 6g, Đại táo 4 quả sắc nước uống. Dùng tốt đối với bệnh nhân cơ thể sức đề kháng yếu mắc ngoại cảm phong hàn.
Quế chi phụ tử thang: Quế chi, Phụ tử, Sinh khương mỗi loại 12g, Cam thảo 8g, Đại táo 3 quả. Sắc nước uống ấm giúp trị chứng phong thấp đau các khớp, không sốt.

Hành huyết thông kinh: dùng Quế chi phục linh hoàn trị chứng phụ nữ đau bụng kinh do ứ huyết, thai chết lưu, bụng dưới có cục, tắt kinh (Quế chi, phục linh, đơn bì, bạch thược và đào nhân. Mỗi thứ 8g sắc nước uống hoặc tán bột mịn làm hoàn).

Bài thuốc trị u xơ tử cung: Quế chi, Đào nhân, Xích thược, Hải tảo, Mẫu lệ, Miết giáp mỗi thứ 160g, Phục linh Mẫu đơn bì, Qui vĩ mỗi thứ 240g, Hồng hoa 100g, Nhũ hương, Mộc dược, Tam lăng, Nga truật mỗi thứ 80g. Tất cả tán mịn, luyện mật làm hoàn, mỗi lần uống 10-12g ngày 2-3 lần.

Ôn thận hành thủy: Quế chi có tác dụng thông dương lợi thủy, khi phối hợp với các vị thuốc ôn thận kiện tỳ lợi thủy chữa các chứng phù (trong bệnh viêm thận, thận hư nhiễm mỡ) hoặc đàm ẩm (trong bệnh viêm phế quản mạn),

Trị các chứng phù: thường dùng bài Ngũ linh tán (Bạch linh, Bạch truật, Trư linh mỗi thứ 12g, Trạch tả 16g, Quế chi 4g, tán bột mịn mỗi lần uống 8-12g hoặc làm thuốc sắc. Trị viêm phế quản hoặc hen phế quản mạn tính. Nhiều đàm dùng bài Linh quế truật cam thang (Bạch linh 12g, Bạch truật 8g, quế chi 8g, Cam thảo 4g sắc nước uống).

Chú ý lúc dùng thuốc: Quế chi kiêng kỵ đối với chứng sốt cao, âm hư dương thịnh, phụ nữ có thai, kinh nguyệt ra nhiều.
Nhục quế:
Trị chứng nôn ỉa nhiều, quyết nghịch hư thoát: bài Tam khí đơn: Nhục quế 3g, Lưu hoàng 3g, Hắc phụ tử 10g, Can khương 3g, Chu sa 2g, chế thành viên, mỗi lần uống 3g ngày 2 lần với nước sôi ấm.
Quế linh hoàn: Nhục quế 3g, Mộc hương 3g, Can khương 5g, Nhục đậu khấu và Chế phụ tử đều 9g, Đinh hương 3g, Phục linh 9g, chế thành hoàn mỗi lần uống 8g, ngày 2 – 3 lần với nước ấm. Trị đau bụng tiêu chảy do tỳ thận dương hư.
Trị viêm thận mạn, phù thũng do dương khí hư chân tay lạnh, tiểu ít chân phù:

Dùng bài Tế sinh Thận khí hoàn (Tế sinh phương): Can địa hoàng 15g, Sơn dược 12g, Sơn thù 6g, Phục linh, Đơn bì, Trạch tả đều 12g, Nhục quế 4g, Phụ tử 10g, Xuyên Ngưu tất 12g, Xa tiền tử 15g. Luyện mật làm hoàn. Mỗi lần uống 15g, ngày uống 2 – 3 lần.

Trị chứng đau bụng, phụ nữ thống kinh do hư hàn:

Dùng Nhục quế tán bột mịn, mỗi lần uống 3 – 4g với nước ấm hoặc rượu càng tốt.

Lý âm tiễn: Thục địa 16g, Đương qui 12g, Nhục quế 5g, Can khương 5g và Cam thảo 4g, sắc uống. Trị phụ nữ đau bụng kinh

Chú ý, kiêng kỵ:

Không dùng Nhục quế cho phụ nữ có thai, người âm hư dương thịnh. Nếu dùng lâu, liều cao thường gây nhức đầu, táo bón.

Nguồn: Tổng hợp